Ảnh của Tôi
16 Phan Ngọc Tòng P.2, TP.Bến Tre, Vietnam
Tin học - Bến tre - Vi tính - Bến Tre - Laptop Bến Tre - Thiết kế - Hướng dẫn - Sửa chữa Lắp ráp cài đặt - Phục hồi ảnh cũ - Hướng dẫn - Dựng đĩa Phim Nhạc - ảnh Kỹ thuật số - Đồ họa - CD&DVD Soft Driver... Các dịch vụ liên quan đến vi tính tin học. Nơi bạn đến là được. Keyword: Tin hoc Ben tre tnx -Vi tinh Ben Tre tnx - Tân Nam Xương - Bến Tre tin hoc tnx - Ben Tre vi tính tnx -bentretnx - vitinhtnx

@ Nhận chụp ảnh, quay phim cưới hỏi, sinh nhật, đám tiệc..., tạo album ảnh & CD & DVD kỹ niệm, album nhạc..., đội ngủ nhà nghề với công nghệ studio kỹ thuật số hiện đại. @

 Hướng dẫn và nhận thiết kế: @Film @Ảnh kỹ thuật số + Ra ảnh dựng phim cho máy chụp hình, máy quay phim Kỹ thuật số,các loại camera... máy điện thoại di động

ồ họa @Corel @Photoshop

@Phone: 016.460.460.22

Cần biết về thủy ngân có trong cá và tôm, cua, sò, hế


Những thông tin cần biết về thủy ngân có trong cá và tôm, cua, sò, hến

https://lh3.googleusercontent.com/-Fwm2_XQuh4A/T7CkeuXcJsI/AAAAAAAADxo/2K0um9WCI2o/s565/spvl_thucpham.jpg

- Hầu hết tất cả các loại cá và tôm, cua, sò, hến đều chứa một chút metyl thủy ngân. Tuy nhiên, những loài cá lớn hơn và sống lâu hơn thường có hàm lượng metyl thủy ngân cao nhất vì thủy ngân tích tụ trong một thời gian dài hơn. Những loài cá lớn này (như cá kiếm, cá mập, cá thu và cá kình) chứa rủi ro cao nhất. Bạn có thể ăn những loại cá và tôm, cua, sò, hến khác với số lượng do FDA và EPA khuyên dùng. Theo tin tức báo chí hàm lượng thủy ngân (Mercury) tìm thấy trong cá ngừ sashimi rất cao vàđã thấy trong một số nhà hàng tại thành phố New York.
 


- Do cá ngừ nướng thường có mức thủy ngân cao hơn cá ngừ trắng đóng hộp nên khi chọn 2 bữa ăn cá và tôm, cua, sò, hến, bạn có thể ăn tối đa 6oz (1 bữa ăn) cá ngừ nướng mỗi tuần. 
 Cá và tôm, cua, sò, hến là những thức ăn quan trọng của một chế độ ăn uống khỏe mạnh. Cá và tôm, cua, sò, hến chứa hàm lượng protein cao, các chất dinh dưỡng thiết yếu khác, các axit béo Omega-3, và hàm lượng chất béo bão hòa thấp. Một chế độ ăn uống cân bằng bao gồm nhiều loại cá và tôm, cua, sò, hến có thể góp phần bảo đảm một trái tim khỏe mạnh, trẻ em tăng trưởng và phát triển hợp lý. Bởi vậy, phụ nữ và đặc biệt là trẻ em cần đưa cá và tôm, cua, sò, hến vào thực đơn của mình vì những thức ăn này mang lại nhiều lợi ích về dinh dưỡng. Tuy nhiên, hầu hết tất cả các loại cá và tôm, cua, sò, hến đều chứa một hàm lượng thủy ngân nhỏ. Ðối với đa số nhiều người, nguy cơ nhiễm thủy ngân do ăn cá và tôm, cua, sò, hến không phải là mối lo ngại về sức khỏe. Tuy nhiên, một số loại cá và tôm, cua, sò, hến có chứa hàm lượng thủy ngân cao hơn và có thể gây hại cho hệ thần kinh đang phát triển của trẻ chưa sinh hoặc trẻ nhỏ. Nguy cơ nhiễm thủy ngân từ cá và tôm, cua, sò, hến phụ thuộc vào số lượng cá và tôm, cua, sò, hến ăn vào và hàm lượng thủy ngân trong những thức ăn đó.

Thủy ngân là chất độc thần kinh khá mạnh, gây tổn thương cho bào thai đang phát triển và có thể dẫn tới nguy cơ đẻ non, khi nhiễm độc thủy ngân người nhiễm dễ mất cảm giác, run, mất khả năng phối hợp cơ, lời nói, thính giác, các vấn đề về thị lực cũng như gia tăng nguy cơ đau tim.

Bởi vậy, Cơ Quan Thực Phẩm và Dược Phẩm (FDA) và Cục Bảo Vệ Môi Trường (EPA) khuyên những phụ nữ sẽ mang thai, đang mang thai, bà mẹ cho con bú và trẻ nhỏ cần tránh một số loại cá, và nên ăn những loại cá và tôm, cua, sò, hến chứa hàm lượng thủy ngân thấp. Ðể biết thêm thông tin về những nguy cơ nhiễm thủy ngân từ cá và tôm, cua, sò, hến, xin hãy gọi điện cho đường dây thông tin miễn phí về thức ăn của Cơ Quan Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ, 1-888-SAFEFOOD.

Lời khuyên dành cho những phụ nữ có thể mang thai, những phụ nữ đang mang thai, bà mẹ cho con bú và trẻ nhỏ từ Cơ Quan Thực Phẩm và Dược Phẩm Hoa Kỳ, Cục Bảo Vệ Môi Trường Hoa Kỳ

Nếu làm theo ba chỉ dẫn sau đây về việc lựa chọn và ăn cá và tôm, cua, sò, hến, phụ nữ và trẻ nhỏ sẽ có lợi khi ăn những thức ăn này, và hãy tin rằng họ sẽ giảm được nguy cơ gặp phải các tác động có hại của thủy ngân.

1. Không nên ăn:

Cá mập, cá kiếm, cá thu, cá kình. Những loại cá này chứa hàm lượng thủy ngân cao.

2. Ăn tối đa 12oz (2 bữa ăn) mỗi tuần các loại cá và tôm, cua, sò, hến chứa hàm lượng thủy ngân thấp hơn.

- Năm trong số các loại hải sản phổ biến nhất chứa hàm lượng thủy ngân thấp là tôm, cá ngừ trắng đóng hộp, cá hồi, cá minh thái và cá trê.

- Một loại cá khác cũng được ăn phổ biến là cá ngừ albacore (“trắng”) chứa hàm lượng thủy ngân cao hơn cá ngừ trắng đóng hộp. Bởi vậy, khi lựa chọn hai bữa ăn cá và tôm, cua, sò, hến, bạn có thể ăn tối đa 6oz (1 bữa ăn) cá ngừ albacore mỗi tuần

3. Hãy kiểm tra những khuyến cáo địa phương về độ an toàn của những loài cá do gia đình hoặc bạn bè đánh bắt tại các hồ, sông và khu vực ven biển tại địa phương. Nếu không có khuyến cáo nào thì mỗi tuần, bạn có thể ăn tối đa 6oz (1 bữa ăn) loại cá bắt tại địa phương, nhưng trong tuần đó, bạn đừng ăn bất kỳ loại cá nào khác.

Hãy làm theo những chỉ dẫn tương tự khi cho con bạn ăn cá và tôm, cua, sò, hến, nhưng hãy cho con bạn ăn với mức khẩu phần nhỏ hơn.

Lưu ý: Nếu bạn có những câu hỏi hoặc cho rằng bạn đã bị nhiễm một hàm lượng lớn chất metyl thủy ngân, hãy đến gặp bác sỹ hoặc nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc y tế ngay lập tức.

Nếu bạn muốn biết thêm thông tin về các hàm lượng thủy ngân trong nhiều loại cá khác nhau mà bạn ăn, hãy truy nhập trang web về an toàn thực phẩm của FDA tại www.cfsan. fda.gov/Ạfrf/sea-mehg.html hoặc trang web của EPA tại www.epa.gov/ost/fish.

 

Những câu hỏi phổ biến về thủy ngân có trong cá và tôm, cua, sò, hến


Thủy ngân là gì?

Thủy ngân là chất diễn ra tự nhiên trong môi trường và có thể được thải ra không khi do ô nhiễm công nghiệp. Thủy ngân rơi trong không khí và có thể tích tụ lại thành các dòng hoặc khối, và chuyển thành chất metyl thủy ngân trong nước. Ðây là loại thủy ngân có hại cho trẻ chưa sinh hoặc trẻ nhỏ. Cá hấp thụ metyl thủy ngân khi ăn thức ăn trong nước và dần dần ngày càng có nhiều thủy ngân tích trong cá. Một số loại cá và tôm, cua, sò, hến chứa hàm lượng thủy ngân nhiều hơn những loại khác, tùy thuộc vào thức ăn của cá. Ðây chính là lý do giải thích tại sao hàm lượng thủy ngân trong các loại cá khác nhau thì không giống nhau.

Tôi là một phụ nữ có thể sinh con nhưng hiện nay không mang thai - vậy thì tại sao tôi phải lo ngại về chất metyl thủy ngân?

Nếu bạn thường xuyên ăn những loại cá có hàm lượng metyl thủy ngân cao, dần dần, chất này sẽ tích tụ lại trong máu của bạn. Metyl thủy ngân được loại bỏ khỏi cơ thể một cách tự nhiên nhưng để hàm lượng metyl thủy ngân giảm xuống đáng kể, bạn phải cần hơn một năm. Do đó, có thể chất này vẫn có trong cơ thể một người phụ nữ trước khi người này mang thai. Ðó là lý do giải thích tại sao những phụ nữ đang muốn mang thai cũng nên tránh ăn một số loại cá nhất định.

Metyl thủy ngân có trong tất cả các loại cá và tôm, cua, sò, hến không?

Hầu hết tất cả các loại cá và tôm, cua, sò, hến đều chứa một chút metyl thủy ngân. Tuy nhiên, những loài cá lớn hơn và sống lâu hơn thường có hàm lượng metyl thủy ngân cao nhất vì thủy ngân tích tụ trong một thời gian dài hơn. Những loài cá lớn này (như cá kiếm, cá mập, cá thu và cá kình) chứa rủi ro cao nhất. Bạn có thể ăn những loại cá và tôm, cua, sò, hến khác với số lượng do FDA và EPA khuyên dùng.

Tôi không nhìn thấy tên loại cá tôi ăn trong danh sách khuyến cáo. Vậy thì tôi cần phải làm gì?
Nếu bạn muốn biết thêm thông tin về các hàm lượng thủy ngân trong nhiều loại cá khác nhau mà bạn ăn, hãy truy nhập trang web về an toàn thực phẩm của FDA tại www.cfsan. fda.gov/Afrf/sea-mehg.html hoặc trang web của EPA tại www.epa.gov/ost/fish.

Còn những loại cá bao bột và bánh sandwich thì sao?

Cá bao bột và bánh sandwich ăn nhanh thường được làm từ những loại cá có hàm lượng thủy ngân thấp.

Tôi đọc được lời khuyên về cá ngừ đóng hộp trong danh sách khuyến cáo. Vậy còn lời khuyên về cá ngừ nướng thì sao?
Do cá ngừ nướng thường có mức thủy ngân cao hơn cá ngừ trắng đóng hộp nên khi chọn 2 bữa ăn cá và tôm, cua, sò, hến, bạn có thể ăn tối đa 6oz (1 bữa ăn) cá ngừ nướng mỗi tuần.

Ðiều gì sẽ xảy ra nếu tôi ăn nhiều hơn lượng cá và tôm, cua, sò, hến khuyên dùng trong một tuần?
Lượng cá mà bạn ăn trong một tuần sẽ không thay đổi đáng kể hàm lượng metyl thủy ngân trong cơ thể của bạn. Nếu bạn ăn nhiều cá trong một tuần, bạn có thể giảm khẩu phần cá trong một hoặc hai tuần tiếp theo. Chỉ cần bảo đảm là bạn ăn vừa đủ lượng cá trung bình khuyên dùng cho mỗi tuần.

Hãy cho tôi biết địa chỉ cung cấp thông tin về độ an toàn của loại cá mà gia đình hoặc bạn bè câu tiêu khiển.

Trước khi đi câu cá, bạn hãy kiểm tra Hướng Dẫn Quy Ðịnh Câu Cá để biết thêm thông tin về những loại cá được câu tiêu khiển. Bạn cũng có thể liên hệ với sở y tế địa phương để biết thêm thông tin về các khuyến cáo địa phương. Bạn cần kiểm tra các khuyến cáo địa phương vì một số loại cá và tôm, cua, sò, hến bắt tại địa phương có thể chứa hàm lượng thủy ngân cao hơn mức trung bình. Ðiều này phụ thuộc vào mức thủy ngân có trong vùng nước mà cá bị câu. Những loại cá có mức thủy ngân thấp hơn đáng kể có thể được tiêu thụ thường xuyên hơn và với số lượng lớn hơn.


Những câu hỏi phổ biến về thủy ngân có trong cá và tôm, cua, sò, hến:


Hãy truy nhập trang web về An Toàn Thực Phẩm của Cơ Quan Thực Phẩm và Dược Phẩm tại www.cfsan.fda.gov hoặc trang web Tư Vấn Về Cá của Cục Bảo Vệ Môi Trường tại www.epa.gov/ost/fish để biết về danh sách hàm lượng thủy ngân có trong các loại cá.

Hiển Mai .
ST
Hàm lượng thủy ngân trong cá
Xưa nay chúng ta được khuyên nên ăn nhiều cá vì cá có lợi nhiều mặt nhất là về tim mạch. Ðôi khi chúng ta nghe lời cảnh cá về những nguy cơ do ăn cá sinh ra. Cuối cùng chúng ta không có một kết luận hay lời khuyên một cách chính xác dựa vào khoa học một cách đáng tin cậy. Phần dưới đây là những tài liệu của Food and Drug Administration (FDA) và của Environmental Protection Agency (EPA), nếu không tin tài liệu của hai cơ quan của chánh phủ Mỹ thì biết tin ai đây.

 
thuyngantrongca1

I. Lý Do Ô Nhiễm:

Thưa quí bạn, trong cá cua sò ốc có chứa khá nhiều chất có lợi cũng như có hại cho sức khỏe. Hôm nay tôi chỉ đề cập tới chất có hại được quan tâm nhiều nhất đó là kim loại thủ ngân chứa torng cá bày bán hàng ngày. Thủy ngân là kim loại nặng, mà đa số kim loại nặng hấp vào cơ thể đều gây hại như sắt, kẽm đồng, chì, cadmium, arsenic... Nhớ lúc trước tôi có người quen bị bịnh cho rằng uống thuốc tây "nóng" có hại, nên đi hất thuốc bắc uống vì "dược thảo không hóa chất vô hại". Sau mấy tháng trời sức khỏe người nầy càng ngày càng yếu đi, nước da sậm đen... chịu hết nổi phải vào nhà thương. Sau cùng nhà thương cho biết người nầy bị nhiễm dộc kim loại chì. Truy ra là do một vị thuốc trong các thang thuốc bắc đã uống hàng ngày. Chuyện có thật, tôi ghi ra để cho thấy tin câu quảng cáo "dược thảo không hóa chất vô hại" có khi phải vào nhà thương. Xin đừng hiểu rằng tôi chống đối thuốc bắc, có khi tôi bị bịnh thì ai bày gì cũng uống tuốt.

Một điều đáng ngại là môi trường ngày nay toàn cầu bị ô nhiễm nhiều, hàm lượng thủy ngân có trong cá biển cá hồ cá sông do chất methylmercury gây ra. Chất nầy do loài người đốt nhiều nhiên liệu hóa thạch (nhất là than đá), khói sinh ra chứa methylmercury, chất nầy theo nước mua rơi xuống làm ô nhiễm nước sông nước biển. Thứ đến là do chất thải từ các nhà máy đổ ra môi trường.

Thủy ngân làm hại bộ thần kinh trẻ con khi còn là bào thai và hài nhi. Ðây là câu nguyên văn "Mercury is most harmful to the developing brains of unborn children and young children, affecting cognitive, motor, and sensory functions".

II.  Lời Khuyên Của FDA:

Ngày nay các loại cá có tên: King Mackerel (cá thu), Shark (cá mập), Swordfish (cá lưỡi kiếm), Tilefish, Tuna (Fresh & Frozen, có chỗ dịch là cá ngừ) là những loại nên tránh hoặc ăn thật ít. Quí bà có thai, cho con bú, và trẻ nít được FDA khuyên không nên ăn. Con tilefish tôi không biết tên Việt Nam, xin xem hình bên cạnh. Ngoài ra FDA cũng khuyên những người kể trên không nên ăn quá 12 ounce (khoảng 360 grams) cá tươi mọi loại trong 1 tuần lể. EPA còn giới hạn lại 8 ounce thôi. Chỉ được ăn 360 grams cá chưa nấu trong một tuần lể e quá ít chăng?

Người lớn thì sao? Vì cái lợi do ăn các lớn hơn cái hại do thủy ngân, người ta không khuyên bỏ hẳn ăn cá mà chuyển qua thứ thực phẩm khác. Câu kết luận của tôi bao giờ cũng áp dụng được là nếu tôi kể ra đây chất nguy hại có trong mỗi loại thực phẩm thì cuối cùng chúng ta nên tuyệt thực cả ăn lẩn uống là an lành nhất. Còn FDA khuyên rằng (xin lập lại) là không nên ăn hoài một món, không nên ăn hoài thực phẩm từ một nguồn sản xuất duy nhất, thí dụ không nên ăn hoài hoài gạo Thái Lan, mà nên thay vào đó gạo Phi, gạo Việt Nam, gạo Mỹ...
III. Bản Phân Tách Lượng Thủy Ngân

Ðây là bản ghi hàm lượng thủy ngân trong cá thường gặp của FDA cập nhật năm 2006. Ðây là cá bắt trong thiên nhiên. Cá câu ở sông hồ thì độ ô nhiễm thủy ngân còn lớn hơn nữa, FDA khuyên không nên ăn cá do chính mình câu được. Quí bạn lưu ý thủy ngân có nhiều nhất trong 4 con cá đầu bản:

SPECIES MERCURY CONCENTRATION (PPM)
MACKEREL cá thu KING 0.730
SHARK 0.988
SWORDFISH cá đao 0.976
TILEFISH cá kình (GULF OF MEXICO) 1.450

Các con cá sau đây có hàm lượng thủy ngân ít hơn:
Species Mercury Concentration (PPM)
Anchovies cá cơm 0.043
Butterfish chim 0.058
Catfish cá da trơn 0.049
Clam * Nghêu Nd
Cod 0.095
Cua Crab 1 0.060
Tôm Crawfish 0.033
Croaker Atlantic (Atlantic) 0.072
Flatfish cá bẹt 2* 0.045
Haddock cá vược (Atlantic) 0.031
Cá thu Hake 0.014
Herring cá trích 0.044
Jacksmelt 0.108
Lobster tôm (Spiny) 0.09
Mackerel cá thu Atlantic (N.Atlantic) 0.050
Mackerel cá thu Chub (Pacific) 0.088
Mullet cá đối 0.046
Oyster 0.013
Perch Ocean * Nd
Pollock 0.041
Salmon cá hồi (Canned) * Nd
Salmon cá hồi (Fresh/Frozen) * 0.014
Cá mồi Sardine 0.016
Scallop ngao 0.050
Shad American 0.065
Tôm Shrimp * Nd
Squid 0.070
Tilapia cá rô phi * 0.010
Trout (Freshwater) 0.072
Tuna cá ngừ (Canned, Light) 0.118
Whitefish cá lạt 0.069
Whiting cá trng Nd

 
 Chì và thủy ngân là 2 kim loại nặng nằm trong danh sách các chất độc cực mạnh và rất nguy hiểm đối với môi trường và sức khỏe con người. Chì được dùng trong sản xuất sơn, pin, đạn, vỏ dây cáp…; thủy ngân được dùng trong sản xuất sơn, nhiệt kế, đèn thủy ngân, trong các linh kiện điện tử…
  • Thủy ngân được sử dụng chủ yếu trong sản xuất các hóa chất,trong kỹ thuật điện và điện tử. Nó cũng được sử dụng trong một số nhiệt kế. Các ứng dụng khác là:
  • Máy đo huyết áp chứa thủy ngân (đã bị cấm ở một số nơi).
  • Thimerosal, một hợp chất hữu cơ được sử dụng như là chất khử trùng trong vaccin và mực xăm (Thimerosal in vaccines).
  • Phong vũ kế thủy ngân, bơm khuyếch tán, tích điện kế thủy ngân và nhiều thiết bị phòng thí nghiệm khác. Là một chất lỏng với tỷ trọng rất cao, Hg được sử dụng để làm kín các chi tiết chuyển động của máy khuấy dùng trong kỹ thuật hóa học.
  • Điểm ba trạng thái của thủy ngân, -38,8344 °C, là điểm cố định được sử dụng như nhiệt độ tiêu chuẩn cho thang đo nhiệt độ quốc tế (ITS-90).
  • Trong một số đèn điện tử.
  • Hơi thủy ngân được sử dụng trong đèn hơi thủy ngân và một số đèn kiểu "đèn huỳnh quang" cho các mục đích quảng cáo. Màu sắc của các loại đèn này phụ thuộc vào khí nạp vào bóng.
  • Thủy ngân được sử dụng tách vàng và bạc trong các quặng sa khoáng.
  • Thủy ngân vẫn còn được sử dụng trong một số nền văn hóa cho các mục đích y học dân tộc và nghi lễ. Ngày xưa, để chữa bệnh tắc ruột, người ta cho bệnh nhân uống thủy ngân lỏng (100-200 g). Ở trạng thái kim loại không phân tán, thủy ngân không độc và có tỷ trọng lớn nên sẽ chảy trong hệ thống tiêu hóa và giúp thông ruột cho bệnh nhân.
Thủy ngân đã được sử dụng để chữa bệnh trong hàng thế kỷ. Clorua thủy ngân (I) clorua thủy ngân (II) là những hợp chất phổ biến nhất. Thủy ngân được đưa vào điều trị giang mai sớm nhất vào thế kỷ 16, trước khi có các chất kháng sinh. "Blue mass", viên thuốc nhỏ chứa thủy ngân, đã được kê đơn trong suốt thế kỷ 19 đối với hàng loạt các triệu chứng bệnh như táo bón, trầm cảm, sinh đẻ và đau răng. Trong đầu thế kỷ 20, thủy ngân được cấp phát cho trẻ em hàng năm như là thuốc nhuận tràng và tẩy giun. Nó là bột ngậm cho trẻ em và một số vacxin có chứa chất bảo quản Thimerosal (một phần là etyl thủy ngân) kể từ những năm 1930. Clorua thủy ngân (II) là chất tẩy trùng đối với các bác sĩ, bệnh nhân và thiết bị.
Thuốc và các thiết bị chứa thủy ngân tiềm ẩn nhiều nguy hiểm, mặc dù chúng đã được sử dụng rộng rãi trong quá khứ. Nhiệt kế huyết áp kế chứa thủy ngân đã được phát minh trong thế kỷ 18 và 19, trong đầu thế kỷ 21, việc sử dụng chúng đã giảm và bị cấm ở một số quốc gia, khu vực và trường đại học. Năm 2002, Thượng viện Mỹ đã thông qua sắc luật cấm bán nhiệt kế thủy ngân không theo đơn thuốc. Năm 2003, Washington Maine trở thành các bang đầu tiên cấm các thiết bị đo huyết áp có chứa thủy ngân . Năm 2005, các hợp chất thủy ngân được tìm thấy ở một số dược phẩm quá mức cho phép, ví dụ các chất tẩy trùng cục bộ, thuốc nhuận tràng, thuốc mỡ trên tã chống hăm, các thuốc nhỏ mắt hay xịt mũi. Cục quản lý thuốc và thực phẩm (FDA) có "dữ liệu không đủ để thiết lập sự thừa nhận chung về tính an toàn và hiệu quả" của thành phần thủy ngân trong các sản phẩm này.


Sự độc hại của chì và thủy ngân đối với sức khỏe
Chì có thể xâm nhập vào cơ thể người qua đường hô hấp và đường miệng. Chì và hơi chì làm cho mắt, cổ họng và mũi đau rát khi tiếp xúc. Chì cũng gây ra các triệu chứng như nhức đầu, cáu kỉnh, giảm trí nhớ, mất ngủ… Tiếp xúc với chì thường xuyên sẽ dẫn đến nhiễm độc chì. Các triệu chứng của nhiễm độc chì là ăn không ngon, sụt cân, buồn nôn, đau bụng, vận động khó khăn, bị “chuột rút”, tăng nguy cơ cao huyết áp, về lâu về dài sẽ gây ra các bệnh về thận, tổn hại cho não và gây ra bệnh thiếu máu.
Thủy ngân xâm nhập vào cơ thể người qua đường hô hấp và qua da. Thủy ngân sẽ gây nên cảm giác rát cho da và mắt khi tiếp xúc. Khi hít phải hơi thủy ngân sẽ khiến bị ho, đau tức ngực, có cảm giác đau rát ở phổi và gây khó thở. Tiếp xúc với thủy ngân thường xuyên sẽ bị nhiễm độc thủy ngân. Triệu chứng của nhiễm độc thủy ngân là tay chân bị run, giảm trí nhớ, mất khả năng tập trung, mờ mắt và bị các chứng bệnh về thận.
Chì và thủy ngân đều có ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh sản ở cả phụ nữ và nam giới, chúng còn có tác hại đối với thai nhi.
Chì và thủy ngân có tồn tại trong nhà của chúng ta hay không?
Không chỉ có những người làm các công việc có liên quan đến chì và thủy ngân thì mới có nguy cơ nhiễm độc. Mọi người đều có khả năng bị nhiễm chì và thủy ngân từ nước, đất và không khí xung quanh vì chúng đều có nguy cơ nhiễm chì và thủy ngân từ khí thải động cơ và từ các nhà máy. Như vậy nếu chúng ta chỉ ở trong nhà thì chúng ta có được an toàn tuyệt đối hay không?
Câu trả lời là không, ngay khi ở trong nhà chúng ta cũng không hoàn toàn tránh khỏi nguy cơ này. Nó là một nguy cơ tiềm ẩn mà chúng ta không nhận ra được. Chúng ta có thể nhiễm độc chì và thủy ngân từ: các vẩy hoặc bụi sơn từ tường, cửa và các vật dụng trong gia đình mà được sơn từ các loại sơn có chứa chì và thủy ngân, trong đất và bụi xung quanh nhà, nước nhiễm chì từ hệ thống ống dẫn nước, từ các đồ dùng bằng pha lê, thủy tinh màu, đồ gốm, các loại pin, máy quay phim, đồ chơi, đài radio, máy tính, nhiệt kế, các loại đèn thủy ngân và kể cả mỹ phẩm. Có nhiều sản phẩm sơn, đặc biệt các loại sơn dành cho gỗ, bê-tông, kim loại, khung cửa đều chứa hàm lượng chì và thủy ngân rất cao.
Chúng ta có thể bị nhiễm độc khi sống trong một ngôi nhà được sơn bằng sơn sử dụng chì và thủy ngân. Một mảng tường bị bong tróc, một món đồ chơi của trẻ nhỏ, nguồn nước uống hay đơn thuần chỉ là một lớp bụi trong nhà cũng tiềm ẩn một nguy cơ nhiễm chì và thủy ngân từ sơn. Và đối tượng dễ bị nhiễm độc nhất trong gia đình lại chính là trẻ em vì trẻ sẽ hít phải bụi, đút tay hoặc bất kỳ thứ gì nhặt được vào miệng mà chúng ta không thể kiểm soát được.
Nhiễm độc chì và thủy ngân gây tác hại nghiêm trọng hơn ở trẻ em vì hệ thần kinh của trẻ nhạy cảm hơn. Chúng gây ảnh hướng đến não, hệ thần kinh, khả năng tiếp thu và sự phát triển của trẻ nhỏ.
Vì những ảnh hưởng đặc biệt nguy hại của chì và thủy ngân đối với sức khỏe nên nhiều quốc gia như Mỹ và các nước châu Âu đã cấm sản phẩm sơn sử dụng chì và thủy ngân từ đầu năm 1990. Xăng pha chì, dù được coi là cách mạng trong ngành công nghiệp ô tô cũng bị cấm hoàn toàn từ năm 1986 tại Mỹ và từ năm 2001 tại Việt Nam.
Một số biện pháp bảo vệ bản thân và gia đình để giảm thiểu nguy cơ nhiễm độc chì và thủy ngân tại nhà:
- Chọn và dùng các loại sơn cho cả nội thất và ngoại thất không sử dụng chì và thủy ngân.
- Mua các vật dụng gia đình: đồ pha lê, đồ gốm hoặc đồ chơi cho trẻ em có nguồn gốc rõ ràng để đảm bảo không sử dụng chì và thủy ngân trong quá trình sản xuất.
- Có chế độ ăn thích hợp có nhiều chất sắt, calci, vitamin C để giúp cơ thể chống chì.
- Không cho trẻ gặm vành cửa sổ hoặc các vật dụng có sơn.
- Thường xuyên rửa tay.
- Để nước trong vòi chảy độ 60 giây, trước khi hứng vô chai lọ. Khoảng một tháng một lần, tháo và chùi bộ phận lọc của vòi nước để loại bỏ chất cặn.
 

tnx sưu tầm

2 nhận xét:

Nặc danh nói...

Bay gio nen an gi? Thit thi nuoi bang hoa chat doc hai, ca tom thi nhieu thuy ngan, rau qua thi nhieu thuoc xau ray,....hoii.. An gi de song day?..co phai nhan loai sap bi diet chung roi chang?...

Trang Huỳnh Thị Nhã nói...

vậy mà hồi giờ không biết cứ thích ăn các loại cá to
cong dung cua ruou vang nho

Đăng nhận xét

Mời coi thêm